Hội thảo “Tăng cường phòng chống và quản lý bệnh thận mạn tại Việt Nam” thúc đẩy giải pháp dự phòng, tầm soát và quản lý bệnh thận mạn lấy người bệnh làm trung tâm

Hà Nội, ngày 09/01/2026 – Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Kinh tế Y tế (HERAC) tổ chức Hội thảo “Tăng cường phòng chống và quản lý bệnh thận tại Việt Nam” với sự tham dự của TS. Lê Thái Hà – Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh , TS. Nguyễn Khánh Phương – Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, PGS.TS. Đặng Văn Chính – Viện trưởng Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện, Trung tâm thuộc Bộ Y tế lãnh đạo các hội chuyên ngành, bệnh viện tuyến trung ương và địa phương, cùng các chuyên gia Tiết niệu – Thận học, y tế công cộng và tổ  chức quốc tế. Sự kiện tập trung thảo luận về sự cần thiết và các giải pháp dựa trên bằng chứng nhằm dự phòng, phát hiện sớm và quản lý bệnh thận mạn (CKD) một cách liên tục, tích hợp và hiệu quả.[1,3]

Chương trình gồm các tham luận trọng tâm về gánh nặng CKD tại Việt Nam; thực trạng tầm soát – chẩn đoán – điều trị; tác động môi trường – kinh tế xã hội; và thảo luận chính sách liên ngành nhằm nâng cao năng lực tầm soát, quản lý nguy cơ tại cộng đồng, tối ưu mô hình điều trị thay thế thận. Các góp ý từ Sở Y tế Phú Thọ, TP. Hồ Chí Minh; Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương; Viện Chiến lược & Chính sách Y tế; Viện Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, các bệnh viện đầu ngành bao gồm Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Nội tiết Trung ương; Hội Tiết niệu – Thận học Việt Nam; Hội Lọc máu Việt Nam, Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam; và đại diện tổ chức Y tế Thế giới WHO được ghi nhận để hoàn thiện định hướng triển khai.

Gánh nặng bệnh thận mạn: nhu cầu cấp thiết đẩy mạnh phát hiện sớm

Theo tổng hợp tại hội thảo, Việt Nam ước tính có khoảng 12.8% dân số trưởng thành mắc bệnh thận mạn [2]. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện sớm còn hạn chế: trên 90% người mắc chưa biết tình trạng bệnh; số ca được tầm soát mỗi năm chỉ khoảng 8.000. [2] Nhiều bệnh nhân được chẩn đoán muộn ở giai đoạn 3–5, kèm theo các biến chứng như tim mạch, thiếu máu, rối loạn điện giải…làm tăng nhu cầu điều trị thay thế thận và nguy cơ tử vong. [2,3]

Ở giai đoạn cuối, gánh nặng điều trị rất lớn. Năm 2023, ước tính có khoảng 46.000 người bệnh cần lọc máu trong bối cảnh năng lực hệ thống còn hạn chế (khoảng 7.000 máy lọc). Tỷ lệ tử vong sau 5 năm ở nhóm chạy thận khoảng 50% [4]. Chi phí chạy thận nhân tạo trung bình 9,6–22,5 triệu đồng/tháng (tương đương 6–7 lần lương tối thiểu); phần tự chi trả có thể lên tới 80% thu nhập hộ gia đình cận nghèo. [5-8], Chi phí cho 1 ca BTM lớn hơn thu nhập bình quân ở Việt Nam năm 2018.

IMPACT-CKD: góc nhìn mới về phát thải và chi phí, định hướng mô hình chăm sóc bền vững

Khác với các báo cáo về dịch tễ và lâm sàng, IMPACT-CKD mang tới góc nhìn mới về phát thải carbon và chi phí y tế trong quản lý bệnh thận mạn (CKD) tại Việt Nam. Kết quả cho thấy ba nguồn phát thải lớn nhất đến từ nhập viện, di chuyển bệnh nhân, và đặc biệt là điều trị thay thế thận (lọc máu, ghép thận…) ở giai đoạn 5.

Phát thải các bon từ hoạt động chăm sóc mỗi bệnh nhân CKD giai đoạn 5 có thể lên đến 6.6 tấn CO2 một năm, tương đương phát thải của một chuyến bay khứ hồi Hà Nội – New York, và tổng phát thải hằng năm từ việc điều trị các bệnh nhân CKD giai đoạn cuối tại Việt Nam hiện nay ước khoảng 0,5 triệu tấn CO₂ – tương đương 1 máy bay đầy khách bay vòng quanh trái đất 833 lần [9]. Các phân tích này cho thấy nếu làm chậm tiến triển CKD, tăng cường phát hiện sớm và quản lý tại cộng đồng, đồng thời tối ưu mô hình điều trị thay thế thận (ưu tiên lựa chọn tại nhà khi phù hợp, giảm di chuyển và sử dụng tài nguyên), chúng ta không chỉ giảm chi phí y tế trực tiếp cho người bệnh và hệ thống, mà còn giảm đáng kể dấu chân carbon của ngành y tế.

Đây là bằng chứng đầu tiên tại Việt nam cho thấy mối liên kết rõ ràng giữa mục tiêu sức khỏe với mục tiêu phát triển bền vững bền vững, bổ sung khía cạnh môi trường – kinh tế xã hội vào hoạch định chính sách CKD [9,3], nhằm góp phần giảm thiểu tác động lên môi trường của hệ thống y tế, hướng tới cam kết đạt Net Zero vào năm 2050 của Chính phủ.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ: định hướng phòng ngừa theo nhóm nguy cơ cao

CKD khởi nguồn từ tổn thương tại mạch thận, cầu thận, ống – mô kẽ và đường tiết niệu. Các yếu tố nguy cơ phổ biến gồm đái tháo đường, tăng huyết áp, tuổi cao, bệnh tim mạch, tiền sử tổn thương thận cấp, tiền sử gia đình mắc bệnh thận mạn, hút thuốc, béo phì, sử dụng kéo dài thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và các thuốc độc thận… [2]

Ở bệnh nhân ung thư, tổn thương thận cấp và CKD thường gặp với cơ chế đa yếu tố (thâm nhiễm, hội chứng tiêu khối u, tắc nghẽn, nhiễm trùng, độc tính từ hóa trị/xạ trị và thuốc điều trị đích như platinum, anti VEGF…), đòi hỏi phối hợp đa chuyên khoa và sự tham gia sớm của bác sĩ thận.

Khoảng trống trong tầm soát và quản lý: ưu tiên nâng cao năng lực tuyến cơ sở

Khảo sát thực trạng chẩn đoán, theo dõi và tầm soát CKD (Hội nghị Tiết niệu – Thận học toàn quốc, 8/2025) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nguy cơ cao được làm đủ xét nghiệm chẩn đoán còn thấp; hơn một phần ba cơ sở chỉ thực hiện đầy đủ cho dưới 25% bệnh nhân. Tần suất xét nghiệm chủ yếu 1 lần/năm; một bộ phận thực hiện không định kỳ, dẫn tới bỏ sót chẩn đoán. [10]

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị CKD (Bộ Y tế, 2024) nhấn mạnh phát hiện sớm tại tuyến cơ sở và sử dụng sớm các nhóm thuốc có chứng cứ bảo vệ thận để làm chậm tiến triển, giảm biến cố tim mạch – thận. [11]

Hội thảo cụ thể hóa khuyến nghị triển khai theo 4 nhóm giải pháp:

  • Chuẩn hóa sàng lọc chủ động: dùng bộ câu hỏi SCORED CKD, que thử nhanh protein niệu; tăng chỉ định xét nghiệm eGFR và UACR định kỳ cho nhóm nguy cơ; phát hiện sớm, chuyển tuyến kịp thời. [3,11,12,13]
  • Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tăng cường truyền thông về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu sớm của bệnh; khuyến khích người dân kiểm tra sức khỏe định kỳ và sử dụng thuốc hợp lý; tránh tự ý dùng dài ngày các thuốc như NSAIDs hoặc các thuốc/thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc… Đồng thời, thúc đẩy lối sống lành mạnh với chế độ dinh dưỡng cân đối, duy trì vận động thường xuyên và bỏ thuốc lá [2].
  • Mô hình quản lý lấy người bệnh làm trung tâm: bảo đảm tiếp cận chẩn đoán cơ bản, thuốc thiết yếu và theo dõi liên tục; tăng cường phối hợp giữa y tế cơ sở, giữa các chuyên khoa thận học, nội tiết, tim mạch để quản lý đa bệnh lý tim – thận – chuyển hóa. [2,3]
  • Cải thiện chất lượng sống giai đoạn cuối: tối ưu điều trị thay thế thận; mở rộng lựa chọn tại nhà khi phù hợp; giảm chi phí ngoài y tế (di chuyển, chăm sóc); đồng thời giảm phát thải trong chuỗi chăm sóc theo định hướng của IMPACT-CKD. [9,2]

Bên cạnh các khuyến nghị chính sách và kỹ thuật, hội thảo ghi nhận các mô hình thực tiễn đang tạo tác động rõ rệt tại cộng đồng. Chương trình CAREME – Yêu lấy mình – tên viết tắt của 3 nhóm bệnh Cardio (tim mạch), Renal (thận) và Metabolic (chuyển hóa) – là sáng kiến hợp tác giữa Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh Bộ Y tế và Công ty AstraZeneca Việt Nam với sự đồng hành triển khai của Hội Tim mạch học Việt Nam, Hội Tiết niệu – Thận học Việt Nam và Hội Đái tháo đường Việt Nam. Trong khuôn khổ CAREME, Chương trình khám sàng lọc các bệnh lý tim mạch – thận – chuyển hóa là một hoạt động hợp tác chiến lược giữa Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam và AstraZeneca  dưới sự bảo trợ của Bộ Y tế, được triển khai từ năm 2022, tập trung sàng lọc và góp phần quản lý sớm các bệnh tim mạch, thận, chuyển hóa. Sau 3 năm, CAREME đã sàng lọc hơn 200.000 người dân, phát hiện gần 10.000 ca bệnh thận mạn giai đoạn sớm, mở rộng tầm soát tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, kết hợp xét nghiệm nhanh, siêu âm, điện tim tại chỗ và tích hợp dữ liệu vào hồ sơ sức khỏe điện tử. Với ý nghĩa và các tác động tích cực mà chương trình đã đem tới, CAREME đã được lãnh đạo Bộ Y tế đánh giá cao, ủng hộ nhân rộng trong Chiến lược quốc gia về phòng, chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2026–2035. [15]

Gắn kết với Chương trình Mục tiêu Quốc gia 2026–2035: cụ thể hóa ưu tiên phòng chống bệnh không lây nhiễm

Tháng 12/2025, Quốc hội thông qua Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe, Dân số và Phát triển giai đoạn 2026–2035, bám sát Nghị quyết 72, tập trung vào 6 điểm mới và 9 mục tiêu lớn nhằm bảo vệ sức khỏe toàn dân. Một trong các trọng tâm của Chương trình là tăng cường phòng chống bệnh không lây nhiễm (NCDs) với mục tiêu tăng cường phòng ngừa, tầm soát và quản lý hiệu quả các bệnh mạn tính như tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh thận mạn (CKD). Việc đưa CKD vào nhóm ưu tiên chiến lược khẳng định cam kết giảm gánh nặng bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. [13]

Hội thảo là có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị triển khai cụ thể chủ trương này tại tuyến cơ sở: tăng tỷ lệ tầm soát ở nhóm nguy cơ, nâng cao chất lượng chẩn đoán sớm, kiểm soát huyết áp – đường huyết – protein niệu, hạn chế tiến triển nặng; qua đó giảm nhu cầu lọc máu, thay thận, giảm tử vong và chi phí y tế, đồng thời tối ưu mô hình chăm sóc để giảm phát thải khí nhà kính.

Các chuyên gia từ Hội Tiết niệu – Thận học Việt Nam, Hội Lọc máu Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai và các đơn vị liên quan nhấn mạnh: bên cạnh triển khai khám sàng lọc tại y tế cơ sở, việc đưa CKD vào nhóm bệnh ưu tiên trong Chiến lược quốc gia phòng, chống NCDs giai đoạn 2026–2035 có ý nghĩa then chốt để bảo đảm một chiến lược tổng thể về phòng ngừa, điều trị và quản lý bệnh. Đây cũng là bước thiết yếu thực thi Nghị quyết của Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 78 về Sức khỏe thận, kêu gọi các quốc gia tích hợp dự phòng, phát hiện sớm và quản lý bệnh thận vào chính sách y tế quốc gia, và đưa quản lý thận vào các gói lợi ích bảo hiểm y tế toàn dân.

Thông qua việc thúc đẩy dự phòng, phát hiện sớm và quản lý CKD một cách hệ thống, hội thảo góp phần củng cố nền y tế vững mạnh, bảo đảm người dân tiếp cận công bằng các dịch vụ y tế chất lượng; phòng bệnh sớm giúp quản lý hiệu quả, hạn chế tiến triển nặng và giảm gánh nặng tài chính cho người dân, xã hội và Nhà nước; qua đó đóng góp vào một xã hội tốt đẹp, thịnh vượng hơn.

Thông cáo báo chí phát hành bởi EloQ Communications